GIA PHẢ - NGUỒN CẢM XÚC DẠT DÀO VỀ ĐẠO LÝ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN

Thứ bảy - 29/04/2017 06:28
Hai tiếng “Gia phả” đối với người Việt Nam ta xưa nay thật vô cùng thiêng liêng. Bởi gia phả chính là bộ sử sống của gia đình, của dòng họ, mà ở đó tổ tiên, ông bà các đời của chúng ta, những người liên tục truyền nối từ thuở vô thủy tới nay đã mang đến cho ta mạng sống, cho ta được làm người đã hiện lên rõ rệt...
Hai tiếng “Gia phả” đối với người Việt Nam ta xưa nay thật vô cùng thiêng liêng. Bởi gia phả chính là bộ sử sống của gia đình, của dòng họ, mà ở đó tổ tiên, ông bà các đời của chúng ta, những người liên tục truyền nối từ thuở vô thủy tới nay đã mang đến cho ta mạng sống, cho ta được làm người đã hiện lên rõ rệt...
 
Xưa kia, bất kể dòng họ lớn nhỏ nào cũng thường có gia phả. Dòng họ nhỏ đôi khi chỉ vào mươi trang ghi chép vắn tắt họ, tên, ngày giỗ, phần mộ của các cụ. Dòng họ lớn thì gia phả viết rất quy củ, có phép tắc, có đủ lời tựa, lời dẫn, phàm lệ, đủ cả phần chính phả, ngoại phả. Ngoài việc ghi chép họ tên, thụy hiệu, ngày sinh ngày mất, phần mộ, chức tước, hành trạng, công lao lúc sống của các cụ, gia phả còn ghi chép cả thơ văn, bi ký, hoành phi, câu đối, văn khấn, nghi thức cúng giỗ, điều lệ dòng họ, về việc xây dựng từ đường, ruộng họ, cùng các đạo sắc phong, chế cáo ban tặng của nhà vua. Phần nhiều là gia phả viết tay, đôi khi những dòng họ có điều kiện kinh tế và có ý thức cao, gia phả còn được khắc in.
 
Nhưng dù dài ngắn mặc lòng, gia phả vẫn là những bộ sử riêng của gia đình, dòng họ viết về những bậc tiền bối với tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, “phục bản phản thủy”, “thận chung truy viễn”, nên nó thường tràn đầy một tình cảm thiêng liêng, một trách nhiệm, một bổn phận cao cả đối với các lớp tiền bối và cả các lớp con cháu sau này, một thái độ thành kính, biết ơn công lao sinh thành, gây dựng, vun đắp của tổ tiên, nên có sức lôi cuốn, có sức cảm hóa mạnh mẽ các lớp cháu con.
 
Đọc gia phả chúng ta sẽ thu hoạch được rất nhiều tri thức bổ ích. Chúng ta sẽ hiểu sâu hơn về các mặt sinh hoạt xã hội, phong tục tập quán, những sự kiện lịch sử mà nhiều khi không được ghi chép trong chính sử của triều đình. Rồi còn văn chương, thơ phú, triết lý... Quả thật có những cuốn giả thực sự có tính chất “bách khoa toàn thư” về dòng họ, về xã hội quá khứ. Nhưng trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào khía cạnh nhận thức của gia phả, chúng tôi chỉ xin trích dịch một vài đoạn văn, một vài mẩu chuyện trong một số cuốn gia phả, nói lên những suy nghĩ và đạo đức, đạo lý làm người của ông cha, thân thiết gần gũi với chúng ta, mà ngày nay, những nét đẹp đạo đức ấy, đã từ lâu được người Việt Nam ta chấp nhận, trở thành đạo đức truyền thống, tâm linh dân tộc, rất giàu cảm xúc uống nước nhớ nguồn, được các gia đình của mọi dòng họ Việt Nam vẫn thường dạy dỗ con cháu, đặng góp vào việc đánh thức những cảm xúc hướng thiện trong chúng ta trong cuộc hành trình trở về cội nguồn đang diễn ra sôi nổi hôm nay.
 
Trước hết, chúng ta hãy bắt đầu từ những trang của lời tựa, mà ở đây chúng ta thường bắt gặp những suy nghĩ dung dị về đạo đức làm con, đạo làm người, về mục đích của việc biên soạn gia phả.
 
Bài tựa gia phả họ Tăng ở thôn Nghiêm Thắng, huyện Đô Lương, Nghệ An viết: “Cây có nghìn cành vạn lá là nhờ có gốc. Nước có nghìn suối vạn dòng là nhờ có nguồn. Con người ta họ hàng con cháu đông đảo, ai mà không bắt nguồn từ tổ tiên?”.
 
Bài tựa gia phả họ Nguyễn Nhân ở làng Xuân Dương, huyện Thanh Chương, Nghệ An viết: “Có người hỏi tôi viết gia phả để làm gì? Tôi đáp: Đạo Càn thành nam, đạo Khôn thành nữ, con người nhờ đó được sinh ra. Vì thế con người ta sinh ra phải kính trọng cha mẹ, tôn kính tổ tông. Lúc bắt đầu là từ một gốc, sau chia ra nhiều nhánh, rồi nối tiếp nghìn vạn con cháu. Bởi lẽ đó, nếu không chép phả thì con cháu các đời sau làm sao mà biết được?”.
 
Bài tựa gia phả họ Đỗ thôn Đại Định, xã Cao Đài huyện Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú viết: “Phép làm gia phả là chi chép nguồn gốc tổ tông, như cành có gốc, như nước có nguồn, có vật nào mà lại không như vậy? Làm con cháu nếu không biết họ hàng tông tộc bắt nguồn từ đâu, khi đối đáp với người ngoài thì dụng dạ rỗng tuếch, chẳng biết nói gì, hoặc nói về tổ tiên thì ú ớ cái lưỡi. Kế thừa máu thịt của ông cha mà như thế, phỏng có hổ thẹn không?”.
 
Bài tựa gia phả họ Mai ở Phương Liệt viết: “Kính nghĩ các cụ tổ tiên ta phúc đức đầy đặn, ăn ở hiếu hạnh. Cụ thủy tổ ta sinh ra ở đất Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay), nảy nở điềm lành ở vùng sông Nhĩ (sông Hồng). Trải qua các đời thứ hai, thứ ba, thứ tưu, thứ năm nối nhau kế thừa, có người văn học tiếng tăm, có người đạo đức ngời sáng. Được như vậy là do tổ tiên gây dựng từ lâu đời. Làm con cháu mà không biết ăn ở đầy đặn, không biết báo đáp công ơn tổ tiên thì còn ra quái gì nữa! Kinh Thi nói: “Tưởng nhớ tổ tiên, tu dưỡng đạo đức, một niềm tu dưỡng, giữ lấy nếp nhà” làm cho sự nghiệp của tiền nhân được vẻ vang, làm gì có con đường nào khác nữa đâu. Những người khéo đọc gia phả hãy nên suy ngẫm về điều đó...”.
 
Ngày nay chúng ta đọc bất cứ bài tựa nào của bất cứ một cuốn gia phả nào của người Việt Nam chúng ta, chúng ta đều được đọc những dòng chữ, những suy nghĩ về ông bà tổ tiên thành kính, trân trọng như thế.
 
Đấy là ở bài tựa. Còn về nội dung thì sao? Trong rất nhiều cuốn gia phả ngoài phần chép tên tuổi, ngày giỗ, phần mộ, còn có những dòng miêu tả hành trạng, tính cách, điều ăn nết ở rất sống động, đọc lên, chúng ta có cảm giác như các cụ “canh tường như tại”(1), đang sống cùng cháu con, đang dạy dỗ cháu con, chính bằng cuộc sống của mình.
 
Gia phả họ Bùi xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, Hà Đông (nay là Hà Tây) viết về cụ tổ đời thứ 10 là cụ Ôn Mục Đoan Khiết công như sau: “Tính cụ nghiêm thẳng, trị nhà cần kiệm có phép, thờ phụng cha mẹ rất hiếu thảo, giữ mình kính cẩn, đãi người chân thành, đối với hàng xóm thì hòa mục lễ nghĩa, tương thân tương ái, không ai chê trách gì được...”. Khi viết về cụ bà, gia phả chép càng cảm động hơn: “... Cụ bà hiệu là Từ Tường nhụ nhân, tính nết cần kiệm tần tảo, rất mực thương yêu chồng con. Thuở còn hàn vi, mỗi khi đi chợ về, cụ đều giành ra vài đồng tiền kẽm để mua giấy bút cho con đi học. Cụ Khắc Trai công chăm chỉ học hành, ngày sau thành đạt, phần nhiều là nhờ công lao dậy dỗ của cụ vậy. Sau này cụ Khắc Trai công làm quan ở viện Hàn lâm, thường xót xa về nỗi mẹ già đã qua đời, không được phụng dưỡng. Đến ngày giỗ mẹ, cụ xúc động làm một bài thơ rằng:
 
“Quan cao nơi viện Hàn lâm,
Cảm thương nhớ mẹ, ướt đầm lệ sa.
Giờ đây tuổi hạc đã già,
Ba mươi năm trước, xót xa nhớ người.
Công danh vinh hiển ở đời,
Cũng là ơn mẹ, khôn nguôi báo đền..
Ấy nhờ phúc ấm tổ tiên,
Quế lan tươi tốt, vững bền dài xa..”
 
Gia phả họ Lê ỡ xã Phù Xá, huyện Kim Hoa, phù Đa Phúc, tỉnh Bắc Ninh, là một vọng tộc lớn ở Bắc Ninh xưa, gia phả viết rất kỹ càng đầy đủ. Đặc biệt những dòng viết về công tích đạo đức của tiền nhân đọc lên rất xúc động. Như đoạn viết về cụ tổ đời thứ 8 rằng: “... Khi cụ làm xã trưởng, cụ xử sự công bằng, được dân xã tin yêu... Vả lại, bấy giờ gặp lúc lắm gian nan, dân tình đói kém, phàm gặp người nào có tai ách, cụ đều rủ lòng chu cấp, mọi người đều được hưởng ơn trạch. Sau khi cụ mất, hai xã tưởng nhớ công đức, đều xin được thờ cụ ở trong đình... Kìa như họ nhà ta đối với dân chúng hai xã Đông Đoài có ơn trạch rất lớn, là bắt đầu từ cụ tằng tổ Nghiêm Quang hầu vậy. Cụ tổ ta nối theo, xây dựng nhà tế đường, sửa sang hương lệ, sắp đặt kỷ cương, đời đời tuân theo, cũng là một việc làm to tát cho dân. Nghìn năm hương hỏa vẫn còn trường tồn nơi miếu xã, mà nhà ta nối đời hưng thịnh. Đó thực là nhờ các cụ liệt tổ nhà ta để lại ơn trạch đến vô cùng vậy”.
 
Cũng trong cuốn gia phả họ Lê ở Phù Xá này, đọc đến đoạn văn bia, đọc bài minh họa sau đây, con cháu nào mà không tự hào chính đáng về tiên tổ: “Kìa như cụ chỉ là người ở nơi thôn dã cuộc đời gặp nhiều cảnh ngộ vất vả gian nan, mà sừng sững hơn hẳn bọn lưu tục, ưa văn học, thích bố thí, lấy đạo làm việc thiện để lại cho con cháu, làm vinh hiển cho gia tộc, xóm làng. Khi mất lại được vua ban cáo mệnh phong tặng, vẻ vang cả nơi chín suối. Hai xã Đông Đoài chịu ơn và tưởng nhớ công đức cụ, đã phối thờ cụ ở trong đình, để mọi người tới đó kỷ niệm cụ không bao giờ mất vậy.
 
Khám thờ bốn thước, khu mộ tốt tươi, dựng tấm bia to, khắc sâu công đức. Có bài minh ca ngợi rằng:
 
“Núi Sóc Sơn cao vút,
Sông Nguyệt Bảo trong xanh.
Nhà họ Lê ta ấy
Hàm chứa bao tinh anh.
Cụ đội ơn tiên tổ,
Gia sản giầu thêm nhanh.
Một đời làm việc thiện,
Con nối nghiệp cha anh.
Mọc lên cây ngọc quý,
Được triều đình tôn vinh.
Hiển hách tên tuổi ấy.
Còn mãi với trời xanh.
Bia đá này ghi khắc,
Không mờ mòn đức âm.
Núi Thái Sơn sừng sững,
Ngưỡng mộ mãi ngàn năm”.
 
Gia phả (bản khắc in) họ Đỗ ở làng Chương Dương, huyện Thường Tín tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây), những tấm gương sáng ngời về đạo đức của các cụ còn được viết xen kẽ thành những mẩu chuyện nho nhỏ, rất giầu ý nghĩa giáo dục và giá trị văn chương, đọc lên con cháu nhớ mãi. Xin nêu ra đây vài truyện.
 
1. Truyện nhường ao của cụ Đoan Lương
 
Cụ tổ đời thứ 6 là cụ Đoan Lương (húy Tông) thi đỗ Tam trường khoa thi Hương năm Quý Mão (1723) niên hiệu Bảo Thái thứ 4, làm quan Đồng tri châu châu Lộc Bình, xứ Lạng Sơn. Khi về hưu, cụ giữ chức văn trưởng hội Tư văn ở làng. Cụ có mua một cái ao, phía đông giáp chân đê, phía tây và nam liền với cái ao của ông Trung úy Lượng, phía bắc giáp đường xóm Thượng Phúc. Nguyên phía trước nhà ông Lượng có bốn cái ao liền bờ, vuông hình chữ điền, cụ mua một cái, ông Lượng mua ba cái. Ý ông Lượng muốn mua nốt cái ao của cụ, phá bỏ bờ thành một cái ao to để thả cá và trồng sen trước cửa nhà cho đẹp. Ông Lượng có lần hỏi mua, nhưng cụ không bán, nên ông Lượng để bụng thù.
 
Nhân ngày cuối năm, cụ cho người lên dọn ao, cắt cỏ xung quanh bờ cao và đánh cá ăn tết. Thấy vậy ông Lượng vu cho cụ là đẽo vạc chân đê, mở rộng ao, định làm đơn thưa kiện. Có người mách với cụ, cụ bèn gọi các con đến bảo rằng: “Việc dọn ao, cắt cỏ, đánh cá là việc nhà ta làm hàng năm. Nay ông Lượng muốn mua cái ao của ta không được, bèn vu ra chuyện đẽo vạc chân đê để đi thưa kiện. Gặp được quan thanh liêm thì chẳng nói làm gì. Nhưng thời buổi kim tiền này, quan thấy kiện như kiến thấy mỡ, nén bạc đâm bạc tờ giấy. Vả lại, quan bênh quan, đồng tiền trên lẽ phải, ta dù có lý đến mấy cũng thua. Cổ nhân có câu: “Thua kiện mười bốn quan năm, được kiện mười lăm quan chẵn”, mà đã gây sự kiện cáo, hẳn sinh oán thù, một đời kiện ba đời thù, như thế phỏng có ích gì?”. Sau đó cụ bèn chủ động đến nhà ông Lượng, bảo với ông Lượng rằng: “Ông muốn mua cái ao của tôi, phá bờ thành cái ao to trước nhà, trồng sen thả cá cho đẹp thì tôi nhượng lại cho, việc gì phải thưa với kiện”. Rồi cụ đưa văn tự ao cho ông Lượng.
 
Về sau, sau khi ông Lượng chết, con cháu ông Lượng không chịu làm ăn, ham mê rượu chè cờ bạc, lại đem chiếc ao to ấy bán cho cháu cụ là cụ Ôn Văn đời thứ 8.
 
2. Sự tích ngôi mộ cụ Ôn Văn
 
Ngôi mộ cụ Đỗ Đình Đại (hiệu Ôn Văn) đời thứ 8 để ở gò con Nhạn, xứ đồng Mật, làng Bạch Mai, tổng Kim Liên, huyện Thọ Xương, sau là huyện Hoàn Long, Hà Nội. Năm Tân Mão (1831) cụ Đỗ Danh Tuấn 15 tuổi lên trọ ở làng Bạch Mai để lên Hà Nội học. Ở chỗ cổng làng Bạch Mai có bà bán nước chè tươi và quà bánh cho khách bộ hành qua lại. Như thường lệ, sáng nào cụ cũng ra đấy uống bát nước chè tươi nóng hổi, hút điếu thuốc lào, rồi mới đi lên Hà Nội học.
 
Một hôm cụ ra quán nước đã thấy một ông lão, áo quần rách rưới lôi thôi, râu tóc bạc phơ ngồi ở trong quán. Cụ vào uống nước xong, cầm lấy cái điếu, thông bã vê thuốc, châm đóm định hút. Vừa lúc ấy ông lão giằng điếu tranh hút. Cụ vui vẻ châm lửa nhường ông lão hút trước, còn mình thông bã hút sau, sắc mặt không có tí gì là bực tức. Cách hai hôm sau, ông lão lại tranh hút như trước, nhưng cụ vẫn một niềm kính cẩn, sắc mặt không hề bực tức. Cách ba ngày sau, ông lão vẫn tranh hút như hai lần trước, cụ vẫn một niềm vui vẻ mời ông lão hút trước. Khi ông cụ đi khỏi, ông lão hỏi bà hàng rằng cậu học trò này quê quán ở đâu bà có biết không? Bà hàng bảo, tôi nghe nói cậu ở dưới phủ Thường Tín lên đây trọ học. Ông thân sinh cậu là Tri huyện, Tri phủ gì đấy. Ông lão bảo: Con nhà gia thế có khác, có phúc mới có người con như thế.
 
Một hôm cậu đi học về, gặp ông lão ở Cầu Dền, ông lão gọi lại và bảo cho cậu biết, rằng lão chính là thảy Địa lí đi để đất cho thiên hạ, thấy đây có ngôi đất đẹp, lão thử xem nhà nào có đức thì sẽ để cho. Lão đã thử nhiều người, chẳng ai vừa ý. Nay thấy cậu khiêm nhường, lễ nghĩa, trọng người cao tuổi, lão để ngôi đất ấy cho. Cậu về thưa với quan nhà, lên mua thửa ruộng ấy. Nhớ đến ngày 16 tháng chạp, sớm tinh sương, có đủ mặt ở đấy, lão đến cắm hương cho. Nhớ mua thêm mươi thúng gạch vụn, cát, vôi bột, để lúc lấp huyệt cần dùng đến...
 
Đúng hẹn sáng sớm tinh mơ ngày 16 tháng chạp, ông lão đã có mặt, cắm đất đào huyệt, đặt quan tài, phân kim ngắm hướng xong, cho lấp đất. Lúc lấp đâts còn cách mặt ruộng ba gang tay, ông lão bảo trộn đều gạch, cát, vôi bột đổ xuống dầy một gang, tưới nước nện chặt (đó gọi là đất tam hợp, sau này cho con cháu dễ nhận), sau đó đắp đất lên như ngôi mộ khác. Ông lão còn bảo, nếu muốn xây phải đợi ngoài 100 năm mới xây và đặt mộ chí được. Khi cụ Trường Ấn (bố cụ Tuấn) đưa biếu lễ vật và tiền, ông lão không nhận, chỉ lấy 1 phẩm oản, 1 quả chuối mà thôi.
 
Tính đến năm an táng cụ là năm Tân Mão (1831) đến năm Bính Tý (1936) cháu đời thứ 12 là cụ Đỗ Danh Doãn (hiệu Tế Xuyên) xây mộ cụ vừa đúng 105 năm, đúng như thày địa lý nói. Nếu không có đất tam hợp thì năm Canh Tý (1900) bọn thù nghịch đã đào mất mộ rồi. Thực là công việc ở đời đều bởi ông Tạo hóa định liệu trước cả, người đời chỉ biết làm theo, đến đâu biết đấy. Cứ chịu khó làm lụng, thực thà hiền lành, ắt được hưởng lộc trời cho, chỉ có sớm muộn mà thôi.
 
3. Truyện đào trộm ngôi mội cụ Ôn Văn ở Bạch Mai
 
Ngôi mộ cụ Ôn Văn an táng ở gò con Nhạn, xứ Đồng Mật, làng Bạch Mai, huyện Thọ Xương, sau là huyện Hoàn Long, Hà Nội. Năm Canh Tý (1900) ở Chương Dương có kẻ thù nghịch cho người lên đào trộm, nhưng không được. Chuyện rằng:
 
Tối 30 tháng Chạp năm Canh Tý (1900) trời tối như mực, lại mưa phùn gió bấc, đêm tĩnh mịch vắng vẻ. Ở cổng làng Bạch Mai có cái điếm canh, cách ngôi mộ cụ Ôn Văn chừng 100m. Trong điếm có 7, 8 người tuần phiên canh gác. Họ chung nhau mua mấy con cá rán, ít xôi, chai rượu để đến lúc giao thừa cùng nhau nâng chén mừng xuân. Chính trong lúc mấy anh em trương tuần quây quân đánh bạc làm vui, thì ngoài mộ bọn thù nghịch đang đào trộm ngôi mộ cụ. Đúng lúc ấy, chợt có con mèo ở đâu đến tha mất con cá rán, bọn tuần vội đứng lên đuổi bắt mèo. Nhưng trời tối, họ chẳng biết mèo chạy đằng nào, chỉ hô hoán lên: “Nó kia, nó kia, bắt lấy nó!” Mấy tên đào trộm mộ nghe tiếng hô hoán, tưởng lộ chuyện, vội bỏ về thẳng. Sáng hôm sau, anh em đi tuần qua đấy mới biết ngôi mộ đêm qua bị đào trộm, đất cát đang còn bừa bãi. Cụ Diên, người chủ thửa ruộng và trông nom ngôi mộ, vội cho người xuống báo ngay cho cụ Xuân Trạch biết. Cụ Xuân Trạch liền lên làm lễ điền hoàn và đắp lại ngôi mộ như cũ.
 
Cụ Diên thường nói: “Từ ngày tôi trông nom ngôi mộ, tôi ăn nên làm ra, con cái học hành thành đạt, nên trông nom rất cẩn thận”. Việc đào trộm mộ ở Bạch Mai có nhiều người biết. Họ bảo nhau rằng: “Đó là quan Thổ thần hóa làm mèo vào tha cá để báo cho anh em tuần phu biết, chứ có phải mèo thật đâu, vì số cá rán chẳng mất con nào cả”. Về sau chuyện mới rõ ràng, có ông Bát Hanh, người làng Chương Dương đi lính cho Pháp, được ban hàm bát phẩm, bị cụ Xuân Trạch giật mất chức Tiên chỉ, nên để tâm báo thù, cho người lên đào trộm mộ.
 
Sau này con trai ông Bát hanh nghèo túng, phải quay về nhờ vả cụ Danh Doãn, là cháu đời thứ 12. Thế mới biết cổ nhân nói: “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” chẳng sai tí nào.
 
4. Truyện vứt thuốc phiện vào thùng phân
 
Cụ tổ đời thứ 9 họ Đỗ ở Chương Dương là cụ Ôn Cung, thụy là Đoan Lượng. Cụ đỗ Cử nhân năm Ất Dậu (1825) lúc 29 tuổi, sau làm quan Tri huyện Lang Tài, thăng Tri phủ Quốc Oai, rồi giữ chức Lễ khoa Cấp sự trung. Thời kỳ cụ làm việc ở Khoa đạo 7 năm, hai lần đi thanh tra ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định, lúc về chỉ có mấy gói thuốc Bắc, có quan Bố chính Bình Định là Phan đại nhân, người làng Phù Ủng, Hải Dương là người nghiện thuốc phiện, có tặng cụ hai lọ thuốc phiện, chừng độ 30 lạng. Cụ miễn cưỡng phải nhận để yên lòng người cùng xứ, làm quan nơi xa gặp nhau. Cụ xử sự cận với nhân tình như vậy đấy.
 
Về nhà cụ nói dối cụ bà rằng, đó là hai lọ thuốc cao, khi nào cụ bảo mở thì mới được mở. Một hôm cụ bà đi vắng, cụ đem hai lọ thuốc phiện đó vứt vò thùng phân. Cụ bà về biết chuyện, có phàn nàn rằng: “Hai lọ thuốc đắt tiền, giá đến hơn 300 quan, sao không bán đi chẳng được món tiền to hay sao. Tiếc quá! tiếc quá!”. Cụ bảo: “Thuốc ấy là vật giết người, làm tan nát cửa nhà, mình đã không dùng, sao nỡ tham lợi bán cho kẻ khác kiếm vài trăm quan tiền thì yên tâm sao đánh!”. Kể từ khi cụ được bổ nhiệm chức Hữu kinh lịch tỉnh Quảng Trị, đến Giám sát ngự sử đạo Thanh Hóa, hơn 15 năm, dân gian có việc thưa kiện, trước cụ lấy điều nghĩa lý hòa giải, sau mới lấy luật phát phân xử nhanh chóng, không để đọng án, kéo dài dây dưa, tốn phí thời gian đi lại, phiền nhiễu cho dân.
 
Đấy, gia phả viết về ông cha như thế, con cháu muôn đời sau đọc đến, ai mà không cảm động, ai mà không tự hào. Những tấm gương sáng như thế, con cháu nào mà không noi theo. Trong ngôn ngữ ta có từ “bách tính”, nghĩa là trăm họ, đồng nghĩa với từ “quốc gia”, “dân tộc”, “đất nước”. Nhiều nhà họp thành họ, nhiều họ họp thành làng, nhiều làng họp thành nước. Mọi nhà, mọi họ làm việc thiện tất sẽ có nhiều phúc khánh. Cả nước làm việc thiện, nước tất sẽ hưng vượng.
 
Bài viết nhỏ này chỉ xin trích dịch một số đoạn, dăm ba truyện dồi dào cảm xúc về đạo lý uống nước nhớ nguồn mà trong bất cứ một cuốn gia phả của dòng họ nào cũng đều có thể tìm thấy, những mong tiếp thêm một chút ít sức mạnh tinh thần truyền thống cho chúng ta trên con đường chấn hưng dân tộc Việt Nam ta hôm nay(2).
 
Chú thích:
1. Canh tường: theo sách Hậu Hán thư - Lý Cố truyện: “Sau khi vua Nghiêu chết, vua Thuấn tưởng nhớ suốt 3 năm, khi ngồi như thấy bóng vua Nghiêu ở trên tường, khi ăn như thấy bóng vua Nghiêu ở trong bát canh. Sau đó, từ này được dùng như một động từ, chỉ sự tưởng nhớ không quên.
 
2. Cảm ơn bạn Đỗ Diễn Hịch đã cung cấp một số tư liệu về dòng họ Đỗ ở Chương Dương, Thường Tín, Hà Tây.
 
*Tác giả Mai Xuân Hải (1944 - 2011) - sinh thời là cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr.115-128
 
 BÀI 2: TÌM DẤU TÍCH DANH NHÂN TRONG NHỮNG TRANG GIA PHẢ 
GIA PHẢ, NGUỒN TƯ LIỆU QUÝ TRONG CÔNG CUỘC
TÌM HIỂU DANH NHÂN VĂN HÓA

Nguyễn Khắc Xương
 
Gia phả và phả hệ là những tư liệu văn bản ghi chép lại về các thế hệ và những biến cố liên quan của một nhân vật, một gia đình và một dòng họ. Các gia đình nho học và các danh nhân văn hóa có thể nói không nhà nào, không ai là không có gia phả và phả hệ. Các bản gia phả này vừa chép về một thế hệ với các vai vế họ hàng của thế họ đó, lại chép các thế hệ với các vai vế họ hàng của thế hệ đó, lại chép các thế hệ nối tiếp nhau từ các cụ tổ xa đời, từ cội nguồn của dòng họ cho tới thế hệ người soạn chep gia phả và cứ thế nổi tiếp mãi, tựa như dòng chảy bất tận của tông tộc. Nhìn vào phả hệ, một hình thức biểu đồ gia phả, ta được thấy cả hàng ngang về quan hệ họ hàng của thế hệ đương đại với hàng dọc là các thế hệ nối tiếp nhau từ khởi thủy, từ ngày tiên tổ lập nghiệp mở đường cho dòng họ định hình, tồn tại và phát triển lâu dài, thế hệ tiếp nối thế hệ các hàng ngang cứ xếp tiếp với nhau trở thành chồng lên, tựa lên nhau theo chiếu chứng biểu hiện sự trường tồn của một dòng họ.
 
Công việc soạn gia phả có ý nghĩa quan trọng và có thể nói là thiêng liêng, đó là biểu hiện sâu sắc nhất của tư tưởng “Uống nước nhớ nguồn”, “Ẩm hà tư nguyên” của nhân dân ta, lại cũng mang tư tưởng tự hào của dòng họ và còn ý nghĩa khác không kém quan trọng là giáo dục con cháu noi gương cha ông, giữ lấy nếp nhà, giữ lấy truyền thống và danh dự của họ tộc.
 
Tuy nhiên, gia phả không chỉ có ý nghĩa với một họ tộc, một gia đình mà còn mang tính xã hội cao trong công cuộc nghiên cứu lịch sử. Gia phả còn có những tư lieuẹ, những phát hiện cả trong lĩnh vực sử học và xã hội học. Đó là những nhận thức của chúng tôi trên đường tìm hiểu Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, thân thế và sự nghiệp, một nhà nha tiêu biểu cuối cùng của văn học cổ điển phong kiến và của văn hóa Khổng học cũng lại là người mở đường, người khai thông cho văn học và thơ ca đi vào hiện đại.
 
Trong tham luận này, chúng tôi giới thiệu các tư liệu gia phả và phả hệ của dòng họ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu như sau:

- Bản gia phả và phả hệ của họ Nguyễn - Tản Đà gốc ở Kim Lũ (Thanh Trì - Hà Nội) do Văn minh điện đại học sĩ, Cơ mật viện đại thần, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hợp biên soạn, đề là “Phả hệ họ Nguyễn huyện Thanh Trì, cháu đời thứ 10 Nguyễn Trọng Hợp kính cẩn biến soạn”.
 
- Bản gia phả của họ Nguyễn Tản Đà, tách từ Kim Lũ về lập nghiệp ở huyện Bất Bạt trấn Sơn Tây từ thời Lê Chiêu Thống đây chính là chi họ của Tản Đà.
 
- Bản gia phả của dòng họ Nguyễn Bá Lân Tiến sĩ khoa Tân Hợi triều Vĩnh Khánh (Lê Duy Phương) do chính Nguyễn Bá Lâm soạn.
 
Nguyễn Trọng Hợp đã chép gia phả, soạn phả hệ về họ Nguyễn ở Kim Lũ - Thanh Trì mà đó chính là họ tộc gốc của Tản Đà có chép về chi của Tản Đà và trong phả hệ ghi rõ cả tên thân phụ Tản Đà cùng những anh em của Nguyễn Khắc Hiếu. Riêng điều này cũng đã cho thấy trong họ Tản Đà có một nhân vật lịch sử và văn hóa quan trọng với thời cuộc là Nguyễn Trọng Hợp và gia phả không chỉ làm sáng tỏ thêm nhiều chi tiết về bản thân Nguyễn Trọng Hợp mà còn làm sáng tỏ nhiều điều trong tiểu sử Tản Đà.
 
Về chi của Tản Đà, bài Tựa mở đầu gia phả và phả hệ ghi tóm tắt về các chi viết:
 
“Chi sau nữa là cụ Bình Chương thi trúng cách, đặc cách làm quan trong triều, mới đầu Đốc đồng Cao Bằng năm đầu Chiêu Thống (1787) rồi Đồng bình chương sự. Cụ sinh 11 con, con lớn là Đình Hằng theo sang nước Thanh theo đường bộ đến đạo Bác Lãng gặp nạn mất, truy tặng Hoàng Tín đại phu (…) Lại có tằng tôn ngành thứ là Kế đỗ cử nhân làm quan đến án sát tỉnh Ninh Bình, lại có Hội đỗ cử nhan bổ giáo thụ, như vậy văn học cũng nhiều, đó là chi thứ 6”.

Trên đây chép “cụ Bình chương” là Nguyễn Huy Tú, đốc đồng rồi Đốc trấn Cao Bằng, là trưởng đoàn phò mẹ Lê Chiêu thống là Lê thái hậu sang triều Thanh cầu viện, sau phong Đồng bình chương sự, Tô phái hầu. Sau trận Tây Sơn đại phá quân Thanh (1789), Nguyễn Huy Tú về ẩn ở huyện Bất Bạt trấn Sơn Tây. Đây là tổ các chi họ Nguyễn Thanh Trì ở Bất Bạt.
 
“Kế” nói trên là Nguyễn Danh Kế, thân phụ Tản Đà, Cử nhân ra tri huyện Lý Nhân, tri phủ Xuân Trường rồi Án sát Ninh Bình. “Hội” là Nguyễn Hội bác Tản Đà anh họ Nguyễn Danh Kế, là Cử nhân bổ Giáo thụ sau mộ dân binh theo thủ lĩnh Cần vương Nguyễn Quang Bích kháng Pháp ở Hưng Hóa, được vua Hàm Nghi chống Pháp phong Tán tướng quân vụ nên trong họ vẫn gọi là cụ Tán Tương. Viết về Nguyễn Quang Bích, Trần Huy Liệu rồi Đinh Xuân Lâm có nhắc đến ông Hội nhưng chỉ biết là Nguyễn Khê người làng Khê Thượng - Sơn Tây mà không biết được tên chính thức và lai lịch.
 
Cũng tư liệu dẫn trên cho biết về chi trưởng, gọi là đại tông, trong đó có chép:
 
“Cụ Hoằng Nghị (đời thứ 6 họ Nguyễn Thanh Trì) sinh 5 con, con trưởng là cụ Phương Đình đỗ Ất khoa (phó bảng) từng làm quan ở Bí các (Bí thư các), phụng sự tới yên Kinh - Trung Quốc, chuyển làm Án sát sứ, sau giáng chức về hưu với hàm Hàn lâm viện thị độc. Khi về hưu, do văn chương và tuổi cao được trọng vọng một thời. Nay con cụ Phương Đình là Dĩnh, hàm Hàn lâm viện điện tịch lĩnh tri huyện huyện Kim Sơn là thừa kế”.
 
Như vậy trong họ tộc Nguyễn Trọng Hợp và Tản Đà còn có danh nhân văn hóa Phương đình Nguyễn Văn Siên, người mà đương thời suy tôn cùng với Cao Bá Quát là “thần Siêu thánh Quát”.
 
Bản phả hệ cũng chép về tổ 5 đời của Tản Đà là Nguyễn Công Thể như sau;
 
“Cụ Trung Mẫn đỗ Tiến sĩ thứ 5 khoa Ất Mùi (1715) niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705-1719), vào chính phủ, chức thiếu bảo Lại bộ thượng thư phong tặng Thái tể thái phó Kiều quận công”.

Về Nguyễn Công Thể tức Trung Mẫn, bản gia phả chép theo lối biên niên rất rõ và có nhiều chi tiết. Công Thể là người đã có công phá tan âm mưu quan chức nhà Thanh lấn chiếm đất biên giới trấn Tuyên Quang với mỏ đồng Tụ Long, lại có một vai trò chủ chốt trong khởi xướng và trực tiếp làm đảo chính, phế Uy vương Trịnh Giang, lập Ân vương Trịnh Doanh, khi làm đảo chính, Trịnh Doanh mới là Ân Quốc công. Xin dẫn một đoạn viết về cuộc đảo chính đó trong gia phả họ Nguyễn - Thanh Trì.
 
“Cụ cùng quan Hữu tư giảng là Nguyễn Qúy Cảnh định mưu chước cùng với thân thần là Doãn công (Trịnh Tạc sau phong Doãn Trung công), Bính công (Võ Tất Thận sau phong Bính quận công) mật tâu vua xin cho Ân quốc công (Doanh) nối ngôi (ngôi đây là ngôi chúa). Ân quốc công trước còn nhường cánh, vua thân dụ hai ba lần, Ân quốc công mới chịu mệnh, lại hẹn Hoán công cùng phò mã Cổn công, nội giám Khuê quận công nội các Phương Đình hầu đều giúp sức.
 
Trước khải phủ Nhiếp Chính (tức phủ Trịnh Giang) ủy tên Thực đem quân sang Hà Bắc đánh giặc, tên Thục còn ngập ngừng, Cụ (Công Thể) lấy lời nói khích động, Thực bất đắc dĩ phải xuất quân.
 
“Vĩnh Hựu thứ 6 (1740) tuần đầu tháng giêng Canh thân bộ thự xếp đặt xong, định lấy ngày khai bảo khởi sự, trình với trừ cung (đây chỉ Doanh), hôm ấy trời chưua sáng, Hoán công lĩnh quân bản bộ vây kín bốn mặt cung Thưởng Trì, sáng rõ, Ân quốc công (Trịnh Doanh), tiến vào trong phủ. Cụ và Nguyễn Quý Cảnh cùng mời tiến. Ân quốc công cứ nhường tránh, cụ tuyên đọc tờ chỉ, bèn cùng lên tòa. Khuê quốc công lên lầu trồng đánh ba hồi trống. Tên Bào nghe tiếng trống từ cung Thưởng Trì vội vã cưỡi ngựa chạy ra, Hoán công giết luôn, bèn vào tôn Ân quốc công làm Minh Đô vương (tức Ân vương), tôn Thuận vương Trịnh Giang là Thái Thượng vương. Tên Thực nghe tin một mình chạy trốn. Chúa lệnh cho săn bắt dư đẳng, cấm phủ từ đây nghiêm chỉnh yên lành.
 
Đoạn văn trên thuật lại một sự kiện lịch sử vừa trung thực vừa sinh động, đó chẳng phải là tư liệu quý cho các nhà sử học hay sao? Trong phần viết về Nguyễn Công Thể cũng như về Nguyễn Huy Tú, gia phả cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin lịch sử có giá trị như thế, cho nên nói gia phả cũng là nguồn tư liệu quan trọng.
 
Một điều chúng tôi cho là rất lý thú là nhờ gia phả các dòng họ mà chúng tôi đã phát hiện được mối quan hệ giữa dòng họ Nguyễn Bá Lân với dòng họ Nguyễn Huy Tú, tức là dòng họ Tản Đà, đó là quan hệ thông gia giữa hai dòng họ khoa bảng nổi tiếng này.
 
Về Nguyễn Bá Lân, Cố Đô - gia phả ký chép về mối thông gia đó như sau:
 
“Cụ Nguyễn Thị Nhiên (hay Nhân) con gái thứ 7 (cụ Nguyễn Bá Lân) là con trắc thất, người Hoài Bão, Bắc Ninh, khi trưởng thành gả con Nguyễn Huy Tú là con thứ Kiều quận công, người ở Kim Lũ - Thanh Trì, Sơn Nam.
 
“Ở Triều Lê Chiêu Thống, Tú làm quan đốc đồng ở Cao Bằng, sau quân Tây Sơn ra Bắc, Tú bảo vệ Hoàng thái hậu sang triều Thanh xin cứu viện, khi thắng lợi trở về được phong Đồng bình chương sự, Tô Phái hầu. Chưa được bao lâu quân Tây Sơn lại ra Bắc, quân Thanh tan vỡ, Tú đi ẩn nơi sơn cùng, đến năm Nhân Tuất triều đại Gia Long yên ổn, cụ Tú về ở ẩn mở trường dạy học ở Khê Thượng, hơn 10 năm thì mất, lấy tên hiệu là “Thanh Khê tiên sinh”.
 
Như vậy, Cổ Đô gia phả ký của dòng họ Nguyễn tướng công - Nguyễn Huy Tú, húy Đễ - cụ họ Nguyễn, hiệu Đoan Trang, húy Nhân (Nhiên). Cụ là con gái của cụ Nguyễn tướng công làng Cổ Đô huyện Tiên Phong, Sơn Tây tỉnh. Sinh mồng 10 tháng 6 năm Kỷ Tỵ, giờ Thìn, mất 26 tháng 6 năm Quý Tỵ thọ 86 tuổi.
 
Xét về tiên tổ là cụ Tiên Lĩnh công nguồn gốc ở Kinh Bắc, phủ Từ Sơn, huyện Tiên Du xã Hoài Bão, là con trai cụ Mặc Trai công. Năm Tân Hợi địa phương có loạn, nhân đó cụ lên Sơn Tây làm nghề dạy học, thời ấy bản phủ ở Tiên Phong làng Cổ Đô, học trò tới họ rất đông. Sau Cổ Đô trở thành quê quán của cụ.
 
Anh chị em cùng thời đều hiển đạt giàu sang trở thành một họ lớn ở làng Cổ Đô nổi tiếng cho đến bây giờ.
 
“Xét về thân mẫu của cụ (Đoan Trang) là trắc thất của cụ Nguyễn tướng công. Tướng công đỗ Tiến sĩ năm Tân Hợi, làm quan Hộ bộ Thượng thư, được phong là Lễ quận công”.

Như vậy gia phả dòng họ Nguyễn của Tản Đà cũng có những thông tin về họ Nguyễn Cổ Đô và Nguyễn Bá Lân đồng thời xác nhận Nguyễn Huy Tú là con rể Nguyễn Bá Lân. Đó là thông gia giữa 2 dòng khoa bảng văn học nổi tiếng.
 
Nguyễn Bá Lân được Tòng Thái thờ làm thành hoàng bởi xưa kia cụ lên đây đặt dinh sở ở xóm Cỏ Già của Tòng Lệnh, Cụ Nguyễn Công Hoàn bảo với cụ Lân: đất này sau sẽ phát phúc hoặc phát công danh nên giữ lấy. Lân chiêu mộ dân lập thành xã Tòng Thái vì thế dân Tòng Thái thờ Lân làm thành hoàng. Ông Nguyễn Huy Tú rời Kim Lũ lên Bất Bạt ở xã Tòng Thái rồi phát triển sang Khê Thượng. Chi thứ 6 là chi người con thứ 6 của Nguyễn Huy Tú ở Khê Thượng chính là chi của Tản Đà.
 
Từ năm 1996, họ Nguyễn Cổ Đô và họ Nguyễn Tòng Thái - Khê Thượng đã nối lại quan hệ với nhau, lễ giỗ Tổ ở Cổ Đô, bên Tòng Thái cũng sang dự và giỗ Tổ bên Tòng Thái, họ Nguyễn Cổ Đô cũng sang làm lễ.
 
Chúng tôi đã trình bày về ý nghĩa của nguồn tư liệu gia phả với phả đồ, phả hệ trong công cuộc tìm hiểu thân thế và sự nghiệp các danh nhân và báo cáo về gia phả dòng họ Nguyễn của Tản Đà ở Thanh Trì và Bất Bạt. Qua các gia phả, chúng ta được thấy dòng họ Tản Đà có những nhân vật nổi tiếng có ảnh hưởng và tác động nhất định tới văn hóa và lịch sử như Nguyễn Công Thể, Nguyễn Huy Tú, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Hội và có thể kể cả Nguyễn Bá Lân. Cũng qua các gia phả này mà chúng ta có được nhiều tư liệu quý giá, nhiều phát hiện bất ngờ. Đi tìm nguồn tư liệu gia phả, xác minh, đối chiếu và phân tích, đó là một công việc khoa học cần thiết để đưa đến những phát hiện và những thành công của công cuộc tìm hiểu danh nhân, nghiên cứu lịch sử và văn hóa dân tộc.
 
 
Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr. 502-510)
*Tác giả Nguyễn Khắc Xương là trưởng nam của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.BÀI 3: GIA PHẢ - NGUỒN TÀI LIỆU LỊCH SỬ QUÝ GIÁ 
GIA PHẢ - THẦN PHẢ - NGỌC PHẢ
một nguồn tài liệu lịch sử cần sưu tầm và khai thác
 
Văn Tân
 
Các gia phả, thần phả không những còn nhiều mà còn chứa đựng nhiều tài liệu sử học, văn hoá dân gian có giá trị nữa. Đây là một kết luận mà tôi rút ra sau khi đi nghiên cứu thực địa, điền dã nhiều năm ở tỉnh Hoà Bình cũ, ở Thạch Thất, Ba vì,…
 
Tháng 3 năm 1977, tôi cùng các đồng chí Đinh Văn Nhật, Lê Văn Lan và nhiều đồng chí khác đi tìm di tích về Hai Bà Trưng ở một miền thượng huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình cũ, sau đó chúng tôi theo đường 21 rẽ về phía tay phải đến một xã gọi là xã Hạ Hằng. Đến Hạ Hằng, chúng tôi mới biết rằng xã này do Hạ Lôi và Hằng Trù hợp nhất lại.
 
Năm 1977 và năm 1978, chúng tôi đến xã Hạ Hằng nhiều lần nữa. Các cụ phụ lão trong xã cho chúng tôi biết nhiều về sự tích Hai Bà Trưng, mà theo các cụ thì quê quán là làng Hạ Lôi (Thạch Thất). Quan trọng hơn cả là cụ Bá Thư lại cho tôi mượn bản Thừa sao sự tích thần và đình quán. Tài liệu này cho biết vị thần mà làng Hạ Lôi thờ là Hai Bà Trưng, từ Hạ Lôi, Hai Bà Trưng đã hoạt động khởi nghĩa, và khi khởi nghĩa, Hai Bà đưa quân ra Hát Môn làm tế lễ cờ…
 
Năm 1978, chúng tôi còn đi nghiên cứu các làng xã ở xung quanh xã Hạ Hằng, và thấy rằng các làng đó cũng thờ Hai Bà hoặc tướng lĩnh của Hai Bà.
 
Những tài liệu về Hai Bà Trưng mà chúng tôi thu thập được trong công tác nghiên cứu thực địa, điền dã ở Hạ Hằng và các xã lân cận đã cho phép chúng tôi đặt giả thiết rằng: quê quán Hai Bà Trưng là làng Hạ Lôi ở bên này sông Hồng, chứ không phải là làng Hạ Lôi ở Yên Lãng bên kia sông Hồng.
 
Trong hội nghị khoa học về Hai Bà Trưng do Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội tổ chức ngày 3 tháng 3 năm 1982 tại đền Đồng Nhân, và cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo đã nổ ra ở bên này sông Hồng…
 
Tháng 9 năm 1977, trong dịp lên thôn Mai Trai, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội, thăm đền thờ Lê Anh Tuấn, một nhà tri thức có tên tuổi hồi giữa thế kỉ XVIII, chúng tôi có dịp được xem cuốn gia phả của họ Lê; chúng tôi thấy Lê Anh Tuấn là một nhân vật có văn tài xuất chúng, đã từng đi sứ nhà Thanh. Tại Bắc Kinh, ông đã yêu cầu vua Thanh bỏ lễ cống ngà voi. Đề nghị của Lê Anh Tuấn đã được vua Thanh chấp nhận.
 
Ngày 23 và 24 tháng 7 năm 1983, chúng tôi lên xã Cổ Đô với mục đích thanh sát những dấu vết của thành Đa Bang mà Hồ Quý Ly đã tốn công xây dựng đầu thế kỉ XV. Vào thăm gia đình đồng chí Nguyễn Xuân Vân, con cháu dòng đích Nguyễn Bá Lân tại Cổ Đô, tôi có may mắn được đọc Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả do chính Nguyễn Bá Lân và con trai ông là Nguyễn Bá Uông viết.
 
Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả không viết theo lối miêu thuật thế thứ như ta thường thấy ở các gia phả, mà viết theo lối hồi ký của các nhân vật lớn trong lịch sử, cho nên nó hấp dẫn người đọc.
 
Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả chứa đựng nhiều tài liệu lịch sử, mà nhiều người chưa biết đến.
 
Theo Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả thì Lý Trần Quán, mà người đương thời gọi là Nghè Canh, là học trò của Nguyễn Bá Lân. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất, Lý Trần Quán làm Hiệp trấn Sơn Tây, lúc bấy giờ là miền đất gồm có tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Sơn Tây cũ và tỉnh Hà Đông cũ sau này, Năm 1785, khi Nguyễn Bá Lân chết, chính Đoan Nam Vương Trịnh Khải đã cử Lý Trần Quán thay mặt chúa đến tế miếu Nguyễn Bá Lân đã tiến cử Bùi Huy Bích lên chúa Trịnh Sâm, và Bùi Huy Bích được Trịnh Sâm trọng dụng làm đến chức Tham tụng phủ chúa Trịnh. Lê Quý Đôn là thông gia với Nguyễn Bá Lân, Lê Quý Kiệt (con Lê Quý Đôn) là con rể Nguyễn Bá Lân.
 
Trong Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí, Phan Huy Chú viết có hệ thống và kĩ nhất về Nguyễn Bá Lân, đánh giá cao về tài năng và đạo đức Nguyễn Bá Lân. Nhưng Phan Huy Chú đã lầm khi cho rằng năm 1775 Nguyễn Bá Lân đã chết. Đọc Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả, chúng tôi biết Nguyễn Bá Lân sinh 1700 và mãi đến năm 1785 mới chết. Như vậy có nghĩa là năm 1872 khi Trịnh Sâm chết, thì Nguyễn Bá Lân vẫn đang còn làm quan ở phủ chúa, và đã được chứng kiến cuộc tranh cướp ngôi giữa một bên là Trịnh Cán con của Đặng Thị Huệ và một bên là Trịnh Tông, cuộc tranh cướp này là nguyên nhân làm bùng ra cuộc nổi loạn của kiêu binh, làm cho cơ đồ của họ Trịnh bị sụp đổ. Về sự kiện lịch sử này, Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả có ghi chép đại khái như sau: Trịnh Sâm chết có để lại di chiếu bỏ quận Tông (Trịnh Khải) lập quận Cán, các quan bắt buộc phải tuân theo. Nhưng Nguyễn Bá Lân là một thanh kiếm bằng vàng và mười mấy tấm lụa màu, yêu cầu ông cho chữ ký phế truất quận Tông, lập quận Cán lên ngôi chúa.
 
Năm ấy, Nguyễn Bá Lân đã 82 tuổi, ông giả vờ già lẫn, không đọc được di chiếu. Ba Cung liền ghé vào tai ông nói nhỏ, rồi lấy tay viết lên không khí ngỏ ý khuyên ông kí vào tờ di chiếu. Ông giả vờ nghễnh ngãng không hiểu Ba Cung nói gì. Cực chẳng đã, Ba cung phải mang kiếm vàng, vàng và lụa ra về.
 
Sau đó kiêu binh nổi loạn, chúng đưa Trịnh Tông lên ngôi chúa. Chúng phá nhà ông Thượng Lại (Thượng thư bộ Lại Nguyễn Khán) và nhà của nhiều đại thần khác, duy có nhà của Nguyễn Bá Lân, chúng không động đến. Không những thế, chúng còn kéo nhau đến lạy chào.
 
Sau khi lên ngôi chúa, Đoan Nam vương Trịnh Khải mấy lần tuyên triệu Nguyễn Bá Lân về Thăng Long, cuối cùng ông bất đắc dĩ phải về kinh, nhân dân kéo đến xem mặt ông đông như hội. Người ta gọi ông là Phật sống. Kiêu binh cũng bảo nhau kéo đến chào ông.
 
Cổ Đô Nguyễn Bá Lân gia phả cho biết chúa Trịnh từng phái Nguyễn Bá Lân đi đánh dẹp cuộc nổi dậy ở nơi này hay nơi khác. Cụ thể là ông đã từng mang quân triều đình đi đánh Lê Duy Mật, khi thì ở huyện Tiên Phong (nay thuộc huyện Ba Vì), khi thì ở Hưng Hóa, khi thì ở sông Đà, sông Hồng, khi thì ở Hoà Bình, khi thì ở Mộc Châu vv…với nhiều chi tiết.
 
Khi Trịnh Doanh lên ngôi chúa thay Trịnh Giang, thì tình hình đất Cao Bằng rối loạn, chỉ còn có Châu Thạch An là còn có trật tự, an ninh một phần nào. Ba lần Trịnh Doanh cử người lên làm đốc Trấn Cao Bằng, nhưng không ai chịu đi, cuối cùng Trịnh Doanh cử Nguyễn Bá Lân về Thăng Long nhận chức khác. Dân Cao Bằng làm đơn đưa về Kinh đô tỏ ý ái mộ ông và xin chúa Trịnh cho ông ở lại trấn trị đất Cao Bằng. Trịnh Doanh không đồng ý. Sau dân Cao Bằng mua một bức trướng gấm đem về Thăng Long tặng ông…
 
Những điều tôi trình bày ở trên nói lên rằng gia phả ở các gia đình và thần phả, ngọc phả ở các làng xã có nhiều tài liệu có giá trị; rằng tại các gia tộc, nhất là các gia tộc lớn các làng xã có những nhân vật quan trọng, nhiều gia phả, thần phả, ngọc phả, trong đó chúng ta có thể tìm được nhiều tài liệu về lịch sử, tài liệu về dân tộc học, về văn hoá dân gian.
 
Tập chung tất cả các gia phả, thần phả, ngọc phả, ngọc phả ấy lại một cơ quan của Nhà nước là điều cần phải làm ngay. Càng chậm trễ thì càng làm cho các gia phả, thần phả, ngọc phả, có khả năng mất dần đi, hoặc mục nát, hư hỏng đến mức không sử dụng được nữa.
 
Tập trung tất cả các gia phả, thần phả, ngọc phả lại vào một cơ quan không phải là việc dễ làm. Vì các gia tộc, các làng xã rất ngại ngùng trong việc giao gia phả, thần phả, ngọc phả cho cơ quan Nhà nước, vì sợ cơ quan nhà nước làm mất “lịch sử”của gia tộc hoặc của làng xã đi.
 
Nếu cơ quan nhà nước có trách nhiệm bảo quản di sản văn hoá của đất nước có quyết tâm thì vẫn có khả năng tập trung trong được các gia phả, thần phả, ngọc phả với điều kiện đảm bảo với các gia tộc có gia phả hoặc các làng xã có thần phả, ngọc phả là gia phả hoặc thần phả, ngọc phả sẽ được trả lại như cũ, một khi đã được chép lại hoặc được chụp ảnh. Đối với các gia tộc, làng xã khó tính, chúng ta có thể kí một số tiền để rồi lấy về, khi chúng ta đã trả lại gia phả, hoặc thần phả, ngọc phả cho chủ cũ.
 
Các gia tộc, các làng xã cũng phải coi là gia tộc mình, làng xã mình, có vinh dự có gia phả, thần phả, ngọc phả, được bảo quản và tập trung trong cơ quan Nhà nước để phục vụ công tác nghiên cứu của nhân dân cả nước.
 
Viện Nghiên cứu Hán Nôm cần có sự cộng tác với các cơ quan như Viện Sử học, Viện Văn học, Viện Khảo cổ, Viện Dân tộc học và chính quyền ở địa phương thì mới có thể hoàn thành nhiệm vụ tập trung các gia phả, thần phả, ngọc phả để bảo quản tốt hơn và phục vụ công tác nghiên cứu tốt hơn. Khi Viện Nghiên cứu Hán Nôm làm được nhiệm vụ này, các cán bộ làm công tác khoa học sẽ có một nguồn tài liệu rất phong phú để bổ sung, đính chính sự hiểu biết của mình về các lĩnh vực khoa học mà mình nghiên cứu.
 
Nguồn: tập san Nghiên cứu Hán Nôm, số 1 - 1984, trang 72-76.
*Tác giả Văn Tân (1913 - 1988) là Giáo sư Sử học (1980). Tên thật là Trần Đức Sắc, bút danh: Văn Tân, Văn Giang, Cựu Kim Sơn, Dương Minh, S.T, Duy Minh, D.M.
Ông là Thư ký tòa soạn tạp chí Nghiên cứu lịch sử từ năm 1961 đến 1976.
 BÀI 4: KHO GIA PHẢ Ở VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔMGIA PHẢ VÀ TƯ LIỆU GIA PHẢ Ở THƯ VIỆN
VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
 
Trần Thị Kim Anh
 
1/ Gia phả được hình thành trên cơ sở tồn tại của các gia tộc. Gia tộc, theo quan điểm của Nho giáo, là sự liên kết quan hệ huyết thống theo phụ hệ. Từ một ông tổ truyền xuống đến bốn đời được gọi là một tông tộc, một gia tộc.

Xã hội người Việt từ khi phát triển theo chế độ phụ hệ, đã dần hình thành các tông tộc. Nhưng tông tộc chỉ thực sự được xem xét khi chế độ tông pháp ra đời. Trong quá trình tiếp xúc với văn hóa Hán, người Việt do chịu ảnh hưởng của Nho giáo, cũng nhìn nhận tông tộc trên cơ sở chế độ tông pháp. Chế độ tông pháp lấy quan hệ huyết thống làm cơ sở, tôn sùng tổ tiên, dựa vào quan hệ huyết thống để phân biệt tôn ti, thân sơ, qui định quyền lợi và nghĩa vụ cho các cá nhân trong một tông tộc. Càng về sau, khi Nho giáo đã thâm nhập và có địa vị vững chắc trong xã hội người Việt, chế độ tông pháp càng được nhìn nhận một cách nghiêm ngặt hơn, đặc biệt đối với hoàng tộc và các dòng họ lớn. Do có vấn đề truyền ngôi kế vị, thừa kế... cho nên sự phân biệt dòng đích, dòng thứ, đại tông, tiểu tông, trực hệ, bàng hệ là hết sức cần thiết. Đối với xã hội đa thê, điều này lại càng thực sự quan trọng. Hơn nữa, chế độ tông pháp còn có quan hệ hết sức mật thiết với chế độ tang phục, nó là nền tảng để định ra chế độ tang phục, mà chế độ tang phục lại là một trong những cơ sở để các bộ luật phong kiến chế định trách nhiệm và quyền lợi của các cá nhân trước pháp luật. Hai bộ hình luật phong kiến nổi tiếng là Bộ luật Hồng Đức đời Lê và Bộ luật Gia Long đời Nguyễn, trong nhiều điều luật, đã căn cứ vào chế độ tang phục, tức sự phân biệt giữa người thân, hàng phải chịu tang với hàng không phải chịu tang, và giữa những người thân với nhau trong hàng phải chịu tang(1), để định ra mức phạt cùng quyền lợi của phạm nhân và nạn nhân. Chính vì vậy, để tránh nhầm lẫn, rối loạn về quan hệ thân sơ, nhu cầu chép lại thế thứ tông tộc xuất hiện, mà gia phả là hình thức để thể hiện.

Tuy nhiên ban đầu, việc chép phả có lẽ chỉ hạn chế chủ yếu trong hoàng tộc và chỉ chú trọng vào thế thứ. Sau này, kể cho đến giai đoạn Lý - Trần - Lê sơ, nhiều dòng họ thế phiệt xuất hiện, bao gồm gia tộc của các công thần võ tướng, các danh sĩ khoa hoạn được tước phong công hầu, ban phong thực ấp, thuộc hàng cao môn vọng tộc, đời nào cũng có người làm quan, đỗ đạt. Còn ở các làng quê, với điều kiện kinh tế mang tính tự nhiên, các dòng họ thường phải tụ cư để sinh sống, có những dòng họ tồn tại đến hàng chục đời, với số nhân đinh lớn, có lực lượng làm kinh tế lớn, giữ vai trò chính trị trong làng, nên đã phát triển thành những dòng họ phú hào, có thế lực và ảnh hưởng lớn trong làng xã. Đối với các dòng họ nói trên, việc chép phả để tôn sùng tổ tiên, khuếch trương dòng họ là vấn đề cần thiết, cho nên rất có thể ở giai đoạn này, nhiều gia phả của các dòng họ lớn đã ra đời. Tiếc rằng hiện nay chúng ta không có được chút gì về tư liệu gia phả của thời đó ngoài những đoạn truy nguyên về gốc tích dòng họ mình nằm trong phần Tự văn của một số bộ phả ở thời kỳ cuối Lê và thời Nguyễn, như họ Đinh cho rằng họ mình thuộc dòng dõi Đinh Tiên Hoàng, họ Phùng cho rằng mình thuộc dòng họ Phùng Hưng... song tuy là chép vậy nhưng không đủ căn cứ.

Sau khi nhà Lê Trung hưng, đặc biệt vào nửa cuối thế kỉ XVIII và thời Nguyễn, qua tư liệu về phả còn lại, có thể thấy ở giai đoạn này, việc chép phả rất được coi trọng và trở nên khá phổ biến. Không chỉ các tộc họ lớn mới có phả, mà có thể nói gần như họ nào cũng có phả. Nhiều họ lớn còn chia thành chi phả, phái phả. Phả thời kỳ này không chỉ đơn thuần ghi về thế thứ mà đã trở nên khá hoàn bị. Nhìn trên đại thể, một cuốn phả đầy đủ được cấu thành bởi các phần sau: Tự văn, Phả lệ, Tộc qui, Tộc mộ, Từ đường, Tộc điền, Phả hệ, đôi khi có thêm lời Bạt. Nhiều gia phả còn có các bản vẽ mộ tổ, từ đường, tộc điền, sơ đồ dinh thự; chép các khế ước, chúc thư, bằng sắc, thơ văn... khiến có bộ lớn tới dăm bảy trăm trang, thậm chí đến hơn ngàn trang.
 
Phần Tự văn có thể được viết nhiều lần, có phả có đến hai ba bài tự văn, thường thì do các thành viên có danh vọng trong tộc viết, có nhà mời các bậc thức giả có tiếng soạn giúp. Tự văn chủ yếu trình bày ý nghĩa của việc làm phả, nguồn gốc của dòng tộc, những sự kiện chính diễn ra trong lịch sử dòng tộc. Phần Phả lệ nói về thể lệ chép phả, có phả ghi qui định về tư cách người được ghi tên trong phả. Phần Tộc qui ghi các qui định của dòng họ về thể lệ cúng tế, trông coi từ đường, cày cấy tộc điền… Tộc mộ, Từ đường, Tộc điền được ghi cụ thể, rõ ràng diện tích và vị trí, phần nhiều có bản vẽ. Phần Phả hệ là bộ phận quan trọng nhất trong gia phả. Phần này liệt kê tính danh húy tự của tổ tông, tình hình công danh, khoa hoạn (nếu có), hôn nhân, con cái, tuổi thọ, ngày giỗ, nơi táng. Con gái cũng được ghi vào phả nhưng ít khi ghi húy tự, đôi khi cho biết gả vào họ nào. Nhiều phả có ghi tỉ mỉ hành trạng của những người đem lại vinh hiển cho dòng họ, là các bậc danh tướng, danh khoa, danh sĩ, trung thần, hiếu tử, liệt phụ... cùng bằng sắc thơ văn của họ. Tuy nhiên không phải cuốn phả nào cũng có đầy đủ các phần như vậy, nhiều phả chỉ có phần thế thứ các đời, ngày giỗ và phần mộ, thông thường đây là phả của các dòng họ nhỏ.

Tóm lại, có thể nói người Việt từ lâu đời, do ảnh hưởng của Nho giáo, đã sử dụng gia phả để chỉ rõ thống hệ, nhằm mục đích “đôn hiếu đễ, trọng nhân luân, mục tông tộc, hậu phong tục.” Việc viết gia phả từ xưa cho đến tận ngày nay đối với nhiều dòng họ luôn là việc quan trọng. Việc này thường do người trưởng họ hoặc một người có danh vọng trong dòng họ chủ trì.
 
Về nguyên tắc, phả phải luôn được viết tiếp, nếu bỏ qua sẽ bị coi là bất hiếu. Sau khi làm xong, phả được sao thành nhiều bản giao cho các chi cất giữ cẩn thận để tránh bị mất và để lưu truyền lâu dài từ đời này sang đời khác. Nhiều dòng họ dùng bia đá để ghi lại tông phả của họ mình.


2/ Tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm hiện nay còn lưu giữ được gần 250 gia phả của 28 họ, bao gồm các họ: Trần, Nguyễn, Vũ, Đinh, Bùi, Đỗ, Lê, Doãn, Dương, Hoàng, Đặng, Đàm, Đoàn, Ngô, Phạm, Lương, Phan, Hà, Nhữ, Hồ, Trương, Lưu, Mạc, Nghiêm, Thẩm, Trịnh, Tường, Vương.
 
Nếu so với con số các họ ở nước ta mới được công bố gần đây là 964 họ thì quá ít ỏi, nhưng có lẽ đây vẫn là nơi có số gia phả tập trung lớn nhất trên toàn quốc.

Về địa vực phân bố thì trừ hai cuốn phả của họ Mạc ở Hà Tiên và họ Lê ở Thừa Thiên, còn đều là phả của các dòng họ thuộc 16 tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra. Nếu sử dụng cách phân chia Nam Bắc thời Lê Trịnh thì đây hầu hết là phả Đàng ngoài. Cụ thể phân bố như sau (theo địa danh hiện tại):

1. Bắc Ninh, có các họ: Trần, Nguyễn, Đàm, Nghiêm, Trịnh.
2. Hà Nội: Trần, Nguyễn, Vũ, Bùi, Đỗ, Lê, Dương, Đặng, Ngô, Phạm, Phan, Lưu, Thẩm, Vương. 
3. Hà Tây: Trần, Nguyễn, Vũ, Đinh, Đỗ, Lê, Doãn, Hoàng, Đặng, Đàm, Đoàn, Ngô, Lương, Phan, Trịnh.
4. Hà Tiên: Mạc.
5. Hà Tĩnh: Nguyễn, Hoàng, Ngô, Lương, Phan.
6. Hải Dương: Nguyễn, Vũ, Đinh, Bùi, Đỗ, Lê, Ngô, Phạm, Nhữ.
7. Hưng Yên: Nguyễn, Vũ, Đỗ, Trương, Tường.
8. Nam Định: Trần, Bùi, Lê.
9. Nam Hà: Nguyễn.
10. Nghệ An: Nguyễn, Đinh, Hồ.
11. Ninh Bình: Nguyễn.
12. Phú Thọ: Nguyễn.
13. Thái Bình: Nguyễn, Lê, Phạm.
14. Thanh Hóa: Trần, Nguyễn, Vũ, Lê, Hoàng, Ngô, Hà, Trịnh.
15. Thừa Thiên: Lê.
16. Vĩnh Phú: Nguyễn, Vũ.

Về niên đại, phả có niên đại sớm nhất được biên soạn vào thời Cảnh Hưng (1740 - 1786), cũng có một số phả mang niên đại biên soạn sớm hơn, vào các thời Vĩnh Tộ (1619 – 1628), Chính Hòa (1680 - 1705), Vĩnh Thịnh (1705 - 1719), nhưng đều là các bản sao. Còn hầu hết đều được soạn, biên tập, sao chép vào các thời Gia Long (1802 - 1820), Minh Mệnh (1820 - 1840), Tự Đức (1848 - 1883)... cho đến niên đại muộn nhất là Bảo Đại 1936. Có bộ thậm chí chỉ mới được sao vào năm 1962. Trừ một bản là Chương Dương Đỗ phả của dòng họ Đỗ ở Hà Tây được khắc in ở đền Lễ Môn vào năm Tự Đức Canh Thìn (1880), còn lại hầu như toàn bộ đều là các văn bản chép tay. Gia phả có số trang ít nhất là 8 trang, gia phả có số trang lớn nhất là 1200 trang, còn lại đều khoảng từ vài chục đến vài trăm trang. Dòng họ chép được thế thứ &

Mai Xuân Hải*

Nguồn tin: caobaquat.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

GIA PHẢ - Ý NGHĨA CỦA GIA PHẢ

Ý nghĩa của gia phả.   Gia phả là vật thiêng của tộc họ, nó đánh thức ở con người sự hướng về cội nguồn. Cùng với tư tưởng tìm về cội nguồn và sự thiêng hóa, gia phả còn xây dựng được niềm tự hào về dòng họ, nhất là đối với những dòng họ có truyền thống văn hóa hoặc có công lao xây dựng,...

Thống kê
  • Đang truy cập3
  • Hôm nay45
  • Tháng hiện tại651
  • Tổng lượt truy cập3,183,974
Thăm dò ý kiến

Lợi ích của phần mềm nguồn mở là gì?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây